Trước khi đi sâu vào dịch vụ thư mục, chúng ta hãy nói về giao thức cơ bản được sử dụng trong dịch vụ thư mục, đó là LDAP hay Lightweight Directory Access Protocol (Giao thức truy cập thư mục hạng nhẹ). LDAP được sử dụng để truy cập thông tin trong các dịch vụ thư mục, ví dụ như qua mạng. Hai trong số các dịch vụ thư mục phổ biến nhất sử dụng LDAP là Active Directory và OpenLDAP, chúng ta sẽ tìm hiểu thêm về chúng trong các bài học sắp tới.
Có rất nhiều thao tác khác nhau mà bạn có thể sử dụng trong LDAP. Bạn có thể thêm một mục nhập mới vào cơ sở dữ liệu máy chủ thư mục, chẳng hạn như tạo một đối tượng người dùng mới có tên là Christie. Bạn có thể xóa một mục nhập trong cơ sở dữ liệu máy chủ thư mục. Bạn có thể sửa đổi các mục nhập và nhiều hơn thế nữa.
Khi chúng ta nói đến "mục nhập", chúng ta đang đề cập đến định dạng mục nhập LDAP hoặc ký hiệu LDAP cho các bản ghi trong dịch vụ thư mục. Một mục nhập LDAP chỉ đơn giản là một tập hợp thông tin được sử dụng để mô tả một cái gì đó. Hãy xem ví dụ này:
dn: cn=Devan Sri-Tharan,ou=Sysadmin,dc=example,dc=com
cn: Devan Sri-Tharan
ou: Sysadmin
dc: example
dc: com
Đừng quá lo lắng về ý nghĩa của những dòng này. Định dạng của các mục nhập LDAP về cơ bản có một tên mục nhập duy nhất, được biểu thị bằng dn hoặc distinguished name (tên phân biệt), sau đó là các thuộc tính và giá trị được liên kết với mục nhập đó.
Vậy, cn là tên chung của đối tượng. Trong trường hợp này, vì nó là một người, chúng ta sử dụng Devan Sri-Tharan làm tên. ou là đơn vị tổ chức, chẳng hạn như một nhóm và trong trường hợp này, Sysadmin được sử dụng. dc là thành phần miền. Ví dụ: example.com được chia thành example, sau đó là com.
Một lần nữa, không cần thiết phải ghi nhớ những thuộc tính này. Bạn có thể tham khảo chúng trong phần đọc tiếp theo. Điều quan trọng cần lưu ý ở đây là ký hiệu LDAP được sử dụng cho các mục nhập trong dịch vụ thư mục để mô tả các thuộc tính bằng các giá trị.